Nghệ An, Thứ năm Ngày 15 Tháng 10 Năm 2020
Thưa ba và cả nhà thương,
Sáng nay điện thoại cho chị Năm nghe mọi người đã kí và gửi đơn cho con rồi và nghe lời nhắn của ba cho con, con thật xúc động. Con cảm ơn cả nhà, Định, anh Phong và tất cả mọi người. Đợt vận động pháp lý này sẽ phải đi đến thành công. Như đã thông báo, trưa nay con đã nhận cơm và ăn trở lại một ít, từ từ sẽ tăng lên.

Con trong này nhưng vẫn cảm nhận được sự chuyển động từ vận động mạnh mẽ của mọi người một tuần qua, từ khi chị Năm thăm con về hôm 8/10/20. Không chỉ là chuyện thần giao cách cảm đâu, mà là nhận được và nhận thấy năng lượng tiếp truyền và tác động. Một tuần rồi con thấy được sự xoay chuyển quan trọng của thời cuộc. Mọi người cũng sẽ sớm thấy thôi, không kềm giữ lâu được nữa. Khi con người hiểu được lẽ phải, thấy được ánh sáng từ trong bóng tối thì họ sẽ bước ra, theo Dòng chảy. Sức mạnh ánh sáng từ quy luật tự nhiên sẽ đẩy họ lướt nhanh, chẳng gì ngăn cản được.
19/10/20
Thư 130A con đã viết rằng Thời đại QCN đang khởi đầu hiện nay sẽ thay đổi đặc trưng CỨNG trội MỀM chìm của Thời đại dân tộc, đặc tính MỀM sẽ trội lên và tiến tới cân bằng với đặc tính CỨNG. Năng lượng mềm và tính nữ thuộc về đặc tính MỀM. Năng lượng cứng và tính nam thuộc về đặc tính CỨNG. Đặc tính CỨNG nổi trội đã làm người ta ngộ nhận, trọng CỨNG khinh MỀM nên quên rằng muốn xã hội phát triển tốt đẹp nhờ quy luật tự nhiên thì đặc tính MỀM phải được làm cho đẹp trước thì đặc tính CỨNG mới theo đó mà tốt lên một cách mạnh mẽ được.
Năng lượng mềm – Quyền lực thầm lặng
Cuốn sách nổi tiếng “Democracy in America” (Nền dân trị Mỹ, NXB Tri thức–2006) của học giả Alexis de Tocqueville đã nhìn ra được một sự thật rất đáng giá là: Chính phụ nữ Mỹ mới là những người đã tạo ra tập quán của Mỹ. Mà chính tập quán Mỹ mới là yếu tố quyết định tạo nên sự tự do và nền dân chủ cho người Mỹ. Tocqueville còn nhận xét thêm về các cô gái Mỹ: Các cô tự chủ, nhanh nhạy. Họ đầy lòng tự tin vào sức mạnh của mình. Lòng tin ấy được môi trường xung quanh chia sẻ. Các cô có một tập tục trinh trắng hơn là một đầu óc trinh nguyên. Thay vì làm cô gái sống trong sự cả nghi của bản thân, người Mỹ tìm cách cho cô gái Mỹ gia tăng lòng tự tin vào sức mạnh của bản thân, cho cô gái nhìn thấy sự hủ bại trước và tự cô tìm ra cách xa lánh chúng. Họ mong vào sự bảo đảm lòng trung thực hơn là sự tôn trọng quá đáng vào sự ngây thơ của cô (trang 666, 667 sđđ).
Từ đó tác giả chỉ ra được một thái độ thực chất, không đạo đức giả ở Mỹ: Trong mắt các nhà lập pháp dân chủ, nạn đĩ điếm không đáng lo bằng nạn chim gái trong xã hội quý tộc trị (trang 678 Sđđ). Cuốn sách đó được viết vào những năm 1830 và được người Mỹ đánh giá rất cao. Họ nói một người Pháp đến tìm hiểu đất nước Mỹ mà còn hiểu Mỹ hơn chính người Mỹ. Suốt gần 2 thế kỉ qua, nước Mỹ đã liên tục phát triển tốt đẹp dần lên vẫn là nhờ vào sự phát triển cái đẹp của đặc tính MỀM – Tính nữ của người Mỹ luôn đi trước. Những bộ óc siêu việt mang tính quyết định cho thành công của việc đưa người Mỹ lên Mặt trăng đa số thuộc về những nữ khoa học gia Mỹ. Nhưng trong Thời đại dân tộc, họ vẫn cứ phải ẩn mình để cho nam giới bước ra toả sáng. Trong Thời đại đó, nam giới thuộc về đặc trưng nổi trội nên là hình ảnh đại diện cho dân tộc.

Nguồn: REUTERS/JONATHAN BACHMAN
Standing firm.
Trong hàng chục nghìn năm của Thời đại dòng tộc và dân tộc đến nay, chúng ta đã thấy vô số các hình ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc được xây dựng cho những người đàn ông để làm biểu tượng cho triều đại, cho quốc gia. Số lượng biểu tượng nữ giới rất hiếm hoi và cũng chẳng mang thực chất của đặc tính MỀM là mấy, như trường hợp của Võ Tắc Thiên – nữ hoàng đế duy nhất trong thời đại dòng tộc của TQ. Bà ta làm vua và hành xử không khác gì các ông hoàng đế. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ thì chúng ta sẽ thấy mức độ thống trị của đặc tính CỨNG đã giảm dần theo Dòng chảy thời đại. Nơi nào càng phát triển văn minh thì mức độ thống trị của đặc tính CỨNG càng giảm. Thậm chí có rất nhiều nơi, rất nhiều các chế độ, triều đại, xã hội đã bị huỷ diệt hoàn toàn vì vẫn dựa trên sự thống trị tuyệt đối của đặc tính CỨNG trong khi thế giới lúc đó đã hình thành nên nhiều chế độ, xã hội văn minh hơn. Ở những nơi này đặc tính CỨNG vẫn còn thống trị nhưng đã không còn ở mức độ thống trị tuyệt đối. Đây chính là bài học lịch sử đau đớn về sự diệt vong của các đế chế có gốc Maya dưới sự xâm chiếm của các thực dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha vào đầu thế kỉ 16.
Vào những năm cuối cùng của thế kỉ XV, Columbus dong thuyền từ châu Âu và đến được châu Mỹ – vùng đất mà người châu Âu chưa từng biết đến trong hàng ngàn năm trước đó. Vào những năm 1490 ấy châu Âu đang ở vào cuối Thời đại dòng tộc. Gần 200 năm sau, vào 1688 Thời đại dân tộc mới bắt đầu ở Anh bằng cuộc Cách mạng Quang Vinh rồi nhanh chóng dẫn tới cuộc Cách mạng Công nghiệp ngay sau đó. Cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI năng lượng vật lý được sử dụng phổ biến ở châu Âu vẫn là từ cơ bắp nhưng họ đã phát triển được sức động vật thay thế đáng kể cho sức người. Ngựa là một sức mạnh khủng khiếp trong các cuộc chinh phạt của châu Âu mà châu Mỹ không hề có khi bị xâm chiếm. Năng lượng vật lý chủ yếu của người châu Mỹ khi ấy vẫn là sức người. Con người ở đó bị chiếm đoạt gần như tuyệt đối để phục vụ và tạo nên sức mạnh quyền lực tuyệt đối đỉnh điểm cho các hoàng đế của các dòng tộc cầm quyền. Vào lúc ấy thì châu Âu đã vượt qua được tình trạng đỉnh điểm này bằng việc kết thúc chế độ nông nô cưỡng bức và chiếm đoạt sức lao động của người dân phục vụ tuyệt đối cho các vua chúa phong kiến. Đây là hệ quả của đại dịch Cái chết đen giữa thế kỷ XIV giết chết gần nửa dân số châu Âu nhưng cũng làm thiếu hụt lực lượng lao động nghiêm trọng, nên dẫn tới phải lao động thoả thuận. Kết quả tiếp theo là ở Tây Âu vào cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV chế độ nông nô giảm dần rồi chấm dứt hẳn, xã hội vì vậy mà có phần dân chủ hơn, phát triển tốt đẹp hơn.
20/10/20
Do đó trình độ của đặc tính MỀM ở Tây Âu vượt hơn hẳn trình độ này ở tất cả vùng thuộc châu Mỹ vào đầu thế kỷ XVI. Cho nên Dòng chảy thời đại lúc đó đương nhiên chảy từ Âu sang Mỹ. Châu Mỹ vào lúc Columbus lần đầu tiên nhìn thấy quần đảo Bahamas vào tháng 10-1942 bao gồm nhiều đế chế hùng mạnh phát triển từ nền văn minh Maya rực rỡ, trải rộng khắp châu lục. Dân số từ vài triệu đến vài chục triệu trong một đế chế đã có nhà nước được tổ chức tập quyền cao độ vào một hoàng đế: Các hoàng đế này là những siêu lãnh tụ không chỉ vĩ đại mà còn thiêng liêng như thần thánh, được ca tụng là có sức mạnh cơ bắp và quyền năng vô song để bảo vệ và ban ân huệ cho dân chúng. Những kẻ này huyễn hoặc người dân để trục lợi cho mình nhưng không ngờ rằng chính sự lừa dối ấy đã dẫn đến cái chết và sụp đổ triều đại của mình một cách nhục nhã nhất.
Thực dân TBN thuộc địa hoá hầu hết các đế chế đó chỉ bằng một chiến lược rất đơn giản nhưng rất hữu hiệu và cực kì ít hao tổn. Đó là chỉ cần khống chế được các hoàng đế của nó rồi dùng quyền lực tuyệt đối của những kẻ đó mà sai khiến cả đế chế thực hiện mưu đồ cho những kẻ cướp xâm lược. Chiến thuật quân sự để thực hiện chiến lược này cũng đơn giản là tấn công thẳng vào những kẻ nắm quyền lực tuyệt đối cao độ ấy. Không khó để người TBN nhìn ra được yếu điểm cũng là điểm yếu này của các đế chế châu Mỹ vốn đã lạc hậu hơn rất nhiều so với họ.
Tháng 11 năm 1519 Hermán Cortés dẫn một đội quân xâm lược với 600 người giả dạng dưới một đoàn thám hiểm tiến vào thủ đô Tecnochtitlan vĩ đại của đế chế Aztec (thuộc Mexico ngày nay). Đế chế này lúc đó có khoảng 20 triệu dân, hoàng đế là Moctezuma nắm trong tay một đội quân hùng mạnh tới cả triệu quân. Ông ta dưới mắt thần dân là rất thiêng liêng, thần thánh và trí tuệ. Ấy vậy mà dễ dàng bị những kẻ cướp xâm lược TBN lừa, mời họ vào cung tiếp đón như một đoàn khách hoà bình. Khi tiệc tùng mới bắt đầu, ngay lập tức quân Cortés nổ súng và bắt giữ hoàng đế Moctezuma như chơi. Quân của siêu lãnh tụ thiêng liêng này thì sợ hãi và tê liệt còn ông ta thì riu ríu nghe theo mọi mệnh lệnh của kẻ cướp mà ra lệnh cho các cận thần của mình cung phụng vàng, lương thực và nhiều của cải khác, bao gồm cả những trang sức là biểu tượng quyền lực của ngai vàng. Ông ta phủ phục, sẵn sàng làm mọi thứ bị yêu cầu để mong giữ được mạng sống. Cả một dân tộc hàng chục triệu người phải cúi đầu để bảo vệ cho một biểu tượng dân tộc – một hình ảnh nam giới tập quyền mạnh mẽ như vậy đó. Kết quả là chưa đầy 2 năm sau, vào 1521 Cortés bình định toàn bộ đế chế Aztec.

Dòng chảy đã tiến vào châu Mỹ một cách hung tợn như vậy nhưng những người châu Mỹ khác chẳng học gì từ bài học của Aztec và Moctezuma. Lúc đó rồi mà họ vẫn chìm đắm trong những thứ đã là nguyên nhân cho sự sụp đổ của tổ tiên họ. Cuốn “Collapse” (Sụp đổ, NXB Thế giới – 2014) của học giả nổi tiếng Jared Diamond viết: “Rõ ràng họ chỉ bận tâm làm giàu cho bản thân trong cuộc sống trước mắt, phát động chiến tranh, dựng đền đài, cạnh tranh lẫn nhau và buộc nông dân phải cung cấp đủ lương thực phục vụ cho cuộc sống xa hoa của họ. Cũng như hầu hết các lãnh tụ trong suốt lịch sử loài người, các vị vua và giới quý tộc Maya không để ý đến vấn đề lâu dài trong khả năng nhận thức của họ.” (trang 257 sđđ)
Hai mươi năm sau khi Cortés chinh phục xong Aztec, năm 1531 TBN bắt đầu xâm cướp Peru. Quốc gia này lúc đó là đế chế Inca tiên tiến nhất châu Mỹ thời ấy với hoàng đế là Atahualpa. Ông ta (hẳn nhiên rồi, không thể là bà ta vào cái thời siêu CỨNG lạc hậu ấy được) là một vị chúa tể tuyệt đối, được sùng bái như thần mặt trời và có uy quyền tuyệt đối với thần dân. Ông ta vừa chiến thắng trong một cuộc nội chiến tranh quyền đoạt vị. Cuối năm 1532, Francisco Pizarro dẫn một toán quân ô hợp gồm 168 binh sĩ TBN tiến đến thành phố Cajamarca – nơi Atahualpa đang đóng quân với khoảng 2000 cận vệ và tuỳ tùng cùng 80 ngàn chiến binh vây quanh sát nách mình. Lực lượng chinh phục của Pizarro hoàn toàn không biết gì về địa lợi hay nhân hoà ở vùng đất đó, cũng chẳng có lợi thế thiên thời nào dành cho họ. Có chăng là họ đang xuôi dòng thời đại còn người Inca thì vẫn đang đắm chìm trong hoang tưởng về sự vĩ đại của mình.
Quả thật, lợi thế về thời đại đã đưa đến chiến thắng gần như không tưởng cho Pizarro. Không lừa gạt được để tiếp đón như Cortés đã làm với Moctezuma, Pizarro phải chiến đấu với một sự chênh lệnh lực lượng khủng khiếp như vậy. Thực ra lực lượng của ông ta đã rất khiếp sợ khi bất ngờ nhìn thấy đội quân hàng hàng lớp lớp của Atahualpa. Nhưng chỉ vài phút sau khi bị buộc phải khai chiến thì Pizarro đã bắt sống được Atahualpa. Khi nhìn thấy biểu tượng thiêng liêng thần thánh bị khuất phục thì toàn bộ cận vệ và quân đội của Atahualpa không còn một chút sức chiến đấu nào được nữa. Một hình ảnh được ca tụng, nhồi nhét vào đầu thần dân là bất khả chiến bại lại dễ dàng thúc thủ nhục nhã thì những con người – thân phận bé nhỏ của những người lính thấy ngay rằng mình không thể chống nổi những người đã dễ dàng khuất phục hoàng đế. Vì vậy mà họ không hề giương vũ khí lên mà chỉ bỏ chạy để bị truy đuổi và giết chết. Một sự thật đau đớn và đáng thương là vẫn có những người dám hy sinh hết lớp này đến lớp khác, nhưng là để thay nhau nâng kiệu Atahualpa đang ngồi để nó không bị hạ xuống thấp, giữ cho biểu tượng vẫn ở trên cao trong khi kẻ ngồi trên nó đang thất kinh hồn vía và không hề có một hành động chiến đấu nào. Pizarro nắm tay hoàng đế kéo xuống trong khi các kỵ binh TBN lao tới chém giết những người khiêng kiệu và đẩy văng nó ra. Atahualpa bị bắt dễ dàng. Quân TBN tiếp tục truy đuổi 8 vạn quân tháo chạy, đến chiều tối đã giết chết hàng chục ngàn người mà 168 kỵ binh, bộ binh của những kẻ xâm cướp không mất người nào.

Pizarro ra lệnh cho Atahualpa phải truyền lệnh cho quan lại và thần dân của mình phục tùng quân TBN, cung cấp lương thực và những gì cần thiết cho quân xâm lược. Hoàng đế bị giam giữ trong 8 tháng để tiếp tục ban ra những mệnh lệnh theo yêu cầu của Pizarro, buộc thần dân của mình phải thực hiện những việc cần thiết cho quân xâm lược có thể chuẩn bị điều kiện đầy đủ sự chinh phục, nô lệ hoá đế chế và thần dân của mình (thực ra chỉ là sự chuyển đổi chủ nô thôi). Sau khi thấy Atahualpa đã “xong nhiệm vụ”, Pizarro lừa ông ta là sẽ tha mạng nếu nộp đủ tiền chuộc là số vàng được chất đầy một căn phòng 7m x 5m x 2.5m. Atahualpa mừng rỡ làm ngay. Nhận đủ số vàng xong, Pizarro giết chết con tin. Thời gian 8 tháng là quá đủ cho Pizarro mở đường liên kết với các lực lượng khác của TBN đang ở châu Mỹ lúc đó để thực hiện một chiến dịch quân sự san phẳng mọi sự kháng cự của đế chế Inca.
21/10/2020
Các đế chế rộng lớn khác ở Nam Mỹ cũng bị đánh bại bằng chiến lược khống chế kẻ đầu sỏ. Có những sự giải thích khác nhau về nguyên nhân thành công của chiến lược này. Phổ biến nhất là qui cho sự vượt trội về vũ khí hiện đại của quân TBN. Đúng là ngựa, kiếm sắt và súng là những thứ mà người châu Mỹ lần đầu tiên nhìn thấy từ quân xâm lược TBN. Chúng có thể làm cho quân lính bản địa bất ngờ và tê liệt trong vài khoảnh khắc lúc đầu, nhưng nếu các hoàng đế của họ thực sự là những người dũng cảm và yêu nước, tiếp tục ra lệnh cho họ chiến đấu sau khi mình bị uy hiếp thì chắc chắn rằng binh lính sẽ lao lên hết lớp này đến lớp khác. Sẵn sàng hy sinh vì hoàng đế là điều họ đã được dạy khắc sâu hàng ngàn năm rồi. Quân TBN dù có thiện chiến đến đâu thì súng cũng chỉ bắn được 1 viên phải nạp đạn tiếp, kiếm có chém được vài người thì cũng bị hàng chục người với rìu đá đè bẹp, chẳng có con ngựa nào vượt qua nổi 100 người mà không bị phanh thây. Với quân số gấp 4, 5 trăm lần, chỉ cần 1000 người hi sinh thì phần còn lại sẽ nghiền nát vài trăm quân TBN chứ không phải là để mấy trăm quân này giết chết hàng chục ngàn người đang trốn chạy nhục nhã. Vì vậy mà nguyên nhân qui cho sự vượt trội của năng lượng CỨNG mà người TBN có được là nguồn gốc chính yếu của sự thành công là chưa thoả đáng. Sức mạnh vũ khí của TBN trong những tình huống như vậy là quan trọng nhưng không mang tính quyết định.
Sự quyết định đối với thành công của chiến lược là từ đặc tính MỀM. Nhiều người lính sống sót sau trận chiến giữa Atahualpa và Pizarro đã kể rằng hầu hết binh lính Inca tưởng những kẻ xâm lược là những vị thần có thể bay lên (bằng ngựa), giết người từ xa (bằng súng). Đó là những năng lực mà từ bao đời họ đã tin rằng chỉ có được ở những lãnh tụ thần thánh – các hoàng đế vĩ đại tối cao của họ. Chính vì vậy mà những kẻ đó mới được Đấng tối cao linh thiêng chọn để bảo vệ và ban ơn cho họ. Thế nên làm sao mà họ dám giương vũ khí chống lại những vị thần đang “hiện thân” như vậy, trong khi hoàng đế thì kinh khiếp và làm theo những gì các “vị thần” ấy muốn. Họ bỏ chạy vì nghĩ đang bị thần thánh trừng phạt. Các hoàng đế được ca tụng là có trí tuệ siêu phàm thì lại chẳng hiểu được rằng quân TBN trong chiến trận không bao giờ dám giết mình, phải bắt sống để sử dụng quyền lực của mình. Nếu hiểu được thì một lời của hoàng đế là đủ đè bẹp ngay đội quân xâm lược bé xíu. Nhưng trình độ của đặc tính mềm của các đế chế lạc hậu với Thời đại đó là vậy. Họ đang ở vào thời kỳ của các siêu lãnh tụ thống trị trong Thời đại dòng tộc. Đây cũng là thời kì mà con gọi là SIÊU CỨNG vì đặc tính CỨNG nổi trội lên ở mức đỉnh điểm, rồi sau đó giảm mức độ dần cho đến hiện nay.
Châu Âu đã vượt qua đỉnh điếm siêu cứng từ cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV cùng với sự dẹp bỏ chế độ nông nô đã nói trên. Vì thiếu nhân lực nên sức lao động của phụ nữ cũng được coi trọng hơn, vai trò của họ vì vậy mà tăng lên một mức trong xã hội dù vẫn còn thấp. Sau đỉnh điểm siêu cứng, người châu Âu bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn các Nữ hoàng dù tỉ lệ vẫn còn thua xa các ông vua. Nhưng điều quan trọng là không chỉ luật pháp chấp nhận mà quan niệm xã hội cũng thừa nhận một phụ nữ đứng đầu đất nước là không có gì trái đạo nếu cô ấy đủ năng lực làm việc đó. Và quan trọng hơn là họ đã tạo nên được những dấu ấn cầm quyền của phụ nữ, khác và có khi vượt trội các ông hoàng. Biểu tượng nổi bật nhất cho sự “mềm hoá cầm quyền” này có lẽ là Nữ hoàng Elizabeth I của Anh vào thế kỷ XVI. Bà làm vua trong giai đoạn nước Anh đã thoát khỏi chủ nghĩa nông nô từ sự hoang tàn của cái chết đen. Trong 45 năm trị vì, bà đã đưa nước Anh từ một dân tộc nghèo nàn lạc hậu bậc nhất châu Âu vươn lên, đuổi theo rồi vượt qua các cường quốc châu Âu ở lục địa. Vào năm 1588, 30 năm sau khi lên ngôi, Elizabeth I với hải quân của mình đã đánh tan đoàn tàu Armada hùng mạnh đáng sợ của đế quốc TBN lúc đó đang trên hành trình xâm lược Anh quốc. TBN khi ấy là đế quốc to lớn nhất với thuộc địa trải dài từ Á sang Mỹ, rất giàu có và xa hoa. Nước Anh từ đó vượt lên rồi qua mặt TBN sau đó.

Nhân vật Nữ hoàng Elizabeth I do nữ diễn viên Cate Blanchett thủ vai trong bộ phim “Elizabeth” (1998)
Không phải ngẫu nhiên mà trong thời kỳ sau đỉnh điểm siêu cứng ở châu Âu đến khi hình thành Thời đại dân tộc cuối thế kỷ XVII, Anh là nước có nhiều nữ hoàng nhất, tạo nên nhiều dấu ấn thành công nhất như Elizabeth I và sau đó là Victoria. Người Anh “mềm hóa” nhanh hơn phần còn lại của châu Âu nên phát triển nhanh và tốt đẹp hơn, vì vậy mà cũng trở thành cái nôi của Thời đại dân tộc – cũng là cái nôi của Cách mạng công nghiệp. Một người phụ nữ đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Quang Vinh 1688 chuyển đổi nước Anh sang Thời đại dân tộc là Công chúa Mary, con gái của vua James II. Bà là vợ của Công tước William xứ Orange Hà Lan, đã cùng chồng thay thế quyền lực độc đoán của cha mình để chuyển đất nước sang chế độ quân chủ lập hiến, mở đầu cho thời kỳ dân chủ thực chất phát triển mạnh mẽ – cũng là sự chấm dứt của Thời đại dòng tộc ở Anh.
Thời đại dân tộc – Kinh tế công nghiệp vẫn mang đặc trưng CỨNG trội hơn MỀM nhưng đặc tính CỨNG đã giảm dần cho đến tận ngày nay. Sự mềm hóa không chỉ diễn ra trong việc sử dụng năng lượng (tỷ trọng năng lượng cứng giảm dần, tỷ trọng năng lượng mềm tăng dần) mà còn trong vai trò của phụ nữ ở xã hội. Vai trò của họ đã tăng lên trong mọi lĩnh vực, kể cả chính trị – nơi thống trị của nam giới lâu đời. Thời đại QCN đã hình thành, rồi mọi người sẽ thấy sự vươn lên thần kỳ của phụ nữ cùng với sự lên ngôi của năng lượng mềm trong một vài thập kỷ tới. Vai trò của phụ nữ sẽ cân bằng với vai trò của nam giới. Xã hội nào còn nuôi dưỡng định kiến trọng nam khinh nữ (tương ứng với đó là trọng cứng khinh mềm) sẽ tự đánh mất lợi thế và bị đánh bại giống như là các xã hội siêu cứng của châu Mỹ đến thế kỷ XVI bị thất bại thảm hại trước các xã hội còn-cứng-nhưng-đã-mềm-hơn của châu Âu cùng thời gian. Cùng thời gian nhưng khác nhau về trình độ Thời đại.

Nguồn: “What Do Countries With The Best Coronavirus Responses Have In Common? Women Leaders” – Forbes (Tạm dịch: Những quốc gia xử lý Coronavirus tốt nhất có chung điều gì? Lãnh đạo nữ giới)
Súng, vi trùng và thép đều không phải nhân vật chính
Nghiên cứu của giáo sư Jared Diamond trong cuốn “Súng, vi trùng và thép” (Guns, Gems and Steel ©1997) cho rằng nhân tố quyết định giúp người châu Âu đánh bại dễ dàng người châu Mỹ đầu thế kỷ XVI là nhờ các con virus dịch bệnh vốn đã miễn nhiễm với người châu Âu đã đi theo họ qua lây nhiễm và giết chết hàng chục triệu người châu Mỹ. Con thấy nhận định này khó đứng vững. Quả thật là virus gần như luôn là tác nhân quan trọng, như sự xúc tác để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi thời đại trên khắp thế giới (Corona đang làm điều tương tự để đẩy nhanh sang Thời đại QCN như con viết ở thư 127A). Nhưng chúng không đóng vai trò quyết định trong sự thành bại của xã hội trước bản lề chuyển đổi thời đại, trước xúc tác của virus. Trong trường hợp của châu Mỹ, hậu quả của virus gây ra là sau khi người TBN đã tấn công xâm lược. Cũng có những vùng đã gánh hậu quả mất hơn nửa dân số vì virus rồi mới bị tấn công, nhưng dân số của những nơi đó vẫn còn tới hàng triệu và lực lượng quân đội vẫn còn hơn cả trăm lần quân số của TBN hay BĐN. Hậu quả của virus không thể giải thích được cho thời khắc quyết định xảy ra cuộc chiến đối đầu với sự chênh lệch lực lượng khủng khiếp như thế được. Virus trong trường hợp này cũng chỉ là xúc tác đẩy nhanh sự chuyển đổi thời đại theo hướng suy tàn – đi đến trạng thái chết của các xã hội không theo kịp Thời đại ở châu Mỹ lúc đó mà thôi.
Virus dịch hạch của Cái chết đen trong trường hợp chuyển đổi bản lề thời đại vượt qua trình độ SIÊU CỨNG ở châu Âu cũng vậy. Nó gieo tang tốc khắp châu Âu, từ quốc đảo như Anh đến mọi quốc gia trên đất liền. Mức độ tang tốc của nó không quyết định sự thành bại của các xã hội mà nó hoành hành. Sự quyết định nằm ở nhận thức khác nhau của con người ở các xã hội đó. Trong khi Anh và Tây Âu nhận ra phải từ bỏ cưỡng bức, chiếm đoạt lao động để có được sự lao động hiệu quả hơn thì Đông Âu vẫn duy trì khắc nghiệt hơn chế độ nông nô. Nga là nước dẫn đầu của xu hướng ngược dòng này. Kết quả này tạo ra sự phân hóa lớn về trình độ phát triển giữa Tây Âu và Đông Âu sau đó. Tây Âu ngày càng dân chủ, thịnh vượng, văn mình bỏ xa dần Đông Âu. Anh là nước bị virus dịch hạch giết chết thảm khốc nhất nhưng lại là nước vượt lên nhanh nhất rồi nhanh chóng đứng đầu vì đã nhận ra được xu hướng thuận chiều Dòng chảy thời đại.
Với trường hợp của virus Corona hiện nay cũng vậy thôi. Nó tấn công đến mọi ngóc ngách trên toàn cầu, độ mở của nơi nào càng lớn thì nó xâm nhập càng dữ. Nó chẳng phân biệt thể chế, tôn giáo, ý thức hệ, chế độ chính trị nào cả. Như con viết ở thư 127A, đứng trước nguy cơ của thảm họa này, điều quan trọng nhất mang tính quyết định là các quốc gia có nhận ra Dòng chảy thời đại QCN đang tiến tới mạnh mẽ không và dân tộc mình phải làm gì để thuận theo nó, từ đó thay đổi những gì không phù hợp của mình để ráp kịp Dòng chảy mà tiến lên nhanh chóng. Ngược lại thì sẽ bị nó san phẳng và nhấn chìm.
Trình độ về thời đại là quyết định. Cho nên dân trí về Thời đại là việc cấp bách phải làm. Lấy mức độ lây nhiễm và tử vong bởi SARS-COV-2 để chê người và tự khen mình như TQ đang làm, từ đó ca ngợi sự ưu việt của chế độ, ý thức hệ chủ nghĩa và lãnh tụ của mình là việc làm tai hại. Nó che mắt người dân về Thời đại, về Dòng chảy và bịt tai lãnh đạo trước những sự thật về những yếu kém dẫn đến nguy cơ sụp đổ, diệt vong. Điều này càng nguy hại hơn khi cả thế giới tiến bộ gần như đều lên án, quy kết TQ giấu diếm dịch bệnh, phòng thủ trước rồi để virus âm thầm lan ra các khu vực tự do nhằm làm suy yếu các quốc gia ở đó, tạo lợi thế cho mình. Chủ tịch ủy ban châu Âu, bà Ursula von der Leyen đã yêu cầu thẳng thừng TQ phải trao cho WHO mọi cơ hội để việc nghiên cứu nguồn gốc của Covid-19 được thành công (tại Hội nghị thượng đỉnh EU-TQ vào 14/9 vừa rồi). Cùng với Mỹ, Úc và nhiều nước nữa, nên TQ chắc chắn không thể lấp liếm nổi chuyện này đâu. Anh thì hứa tài trợ hàng trăm triệu bảng Anh cho việc điều tra này.
Hơn nữa, trình độ về Thời đại của TQ đang ở mức RẤT CỨNG, không còn SIÊU CỨNG nữa nhưng vẫn còn ở mức độ lạc hậu. Nó thể hiện không chỉ ở tình trạng quá trọng cứng khinh mềm trong chính sách phát triển kinh tế, trong vai trò còn quá thấp của phụ nữ trong xã hội mà còn ở kiểu làm chính trị dồn vào một hạt nhân lãnh đạo là một lãnh tụ được làm cho người dân thấy là siêu việt và vĩ đại. Lãnh tụ vĩ đại này của TQ bây giờ chắc chỉ kém các siêu lãnh tụ của thời kỳ siêu cứng trước đây của thế giới mội chút, không còn màu sắc tôn giáo nhưng thay vào đó là màu sắc của ý thức hệ, của tư tưởng chính trị sáng chói soi đường cho gần 1,5 tỷ dân (lịch sử thế giới chưa từng có một siêu lãnh tụ hay lãnh tụ vĩ đại nào dẫn dắt nhiều người đến như vậy). Nói kém một chút là so sánh ở mức độ tương đối, chứ mà xét về mức độ tuyệt đối thì lãnh tụ vĩ đại của TQ là thiên hạ vô địch, không một siêu lãnh tụ ghê gớm nào từng có được, từ Moctezuma, Atahualpa đến các sa hoàng đại đế, Hitler và cả Thiên hoàng Nhật trước Thế chiến II. Người Trung Hoa có thể đang tin rằng kiểu làm chính trị đó là cách duy nhất để hoàn thành giấc mộng Trung Hoa. Nhưng theo quy luật thì chắc chắn họ sẽ thất bại trừ khi họ tỉnh ngộ kịp thời để MỀM HÓA nhanh chóng bản thân mình cho phù hợp với Thời đại mới – Thời đại QCN với đặc trưng đặc tính MỀM sẽ trội hơn đặc tính CỨNG.
Chiến lược cũ nhằm vào đầu sỏ vẫn còn hữu dụng, chỉ có đổi chiến thuật cho phù hợp với những cách thức được chấp nhận của Thời đại thôi. Không phải ngẫu nhiên mà Tổng thống Trump từ “tôi có quan hệ tốt với chủ tịch TQ Tập Cận Bình” lại biến chuyển quá nhanh thành “người lãnh đạo ĐCSTQ” kèm theo nhiều chỉ trích về nuốt lời, cạnh tranh bất chính, đánh cắp trí tuệ, cưỡng bức, cưỡng ép… một cách công khai trước ĐHĐLHQ 74 năm ngoái. Bà Merkel Thủ tướng Đức giờ cũng chẳng ngần ngại chê trách ông Tập. Đại dịch Covid-19 cứ tưởng là giúp TQ nắm lợi thế thì lại làm cho thế giới thấy sự đạo đức giả, gian trá của lãnh tụ vĩ đại rõ và nhanh. Sẽ còn nhiều chiến thuật bất ngờ ghê gớm nữa. Tuổi Trẻ cuối tuần số ra 27-1-2020 đưa tin về một cuộc thăm dò dư luận ở Châu Âu, có đến 62% người được hỏi nhìn nhận TQ dưới lăng kính tiêu cực, chỉ 7% tin rằng TQ là một đồng minh hữu ích trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Phong trào bài Trung tăng trưởng quá nhanh phải không. Nhưng giai đoạn đỉnh điểm của sự bất tín nhiệm TQ sẽ còn kéo dài vài năm nữa mà kết quả cuối cùng là sự sụp đổ thần tượng – hình ảnh lãnh tụ vĩ đại. Hệ quả của nó thì ai cũng thấy được.

Sự gian trá của TQ ở Biển Đông giờ đã không còn lừa gạt được ai nữa. Tại Hội nghị thượng đỉnh EU-TQ 14-9-20, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel đã kêu gọi đích danh TQ kiềm chế mọi hành vi đơn phương ở Biển Đông, tôn trọng luật pháp quốc tế và tránh leo thang căng thẳng. EU đã không còn tuyên bố chung chung khi nói về những vấn đề trên Biển Đông nữa. Họ sẽ can dự trực tiếp vào đây, không chỉ về các vấn đề trên biển mà cả vào vấn đề chính trị ở khu vực Ấn Độ TBD, đặc biệt là Đông Nam Á. Thủ tướng Đức Merkel đã khẳng định Đức sẽ can dự mạnh mẽ vào Ấn Độ TBD khi điện đàm với Thủ tướng VN hôm 15-9-20, một ngày sau Hội nghị thượng đỉnh EU-TQ. Thời điểm này không phải là ngẫu nhiên phải không. Các chính quyền của những nước trong khu vực mà vẫn chưa hiểu những sự can dự đó chính là năng lượng của Dòng chảy thời đại đang tới tấp đổ vào thì sẽ là sự thất bại đó. Ai mà còn mơ mộng và bắt bớ như TQ thì sẽ bị Dòng chảy cuốn phăng. Các vụ bắt giữ gia tăng ở HK chỉ cho thấy sự sợ hãi đang tăng ở lãnh tụ TQ mà thôi. Bắt bớ, thị uy là hành động tự nhiên của những kẻ sợ hãi khi nắm quyền lực trong tay. Nhưng khi bất ngờ tuột mất quyền lực thì họ như thế nào? Nhìn Moctezuma, Atahualpa hay gần hơn là Saddam Hussein, Gadahphi thì rõ. Điên cuồng ngược Dòng chảy thì khó có kết cục khác được.
Tiếng Việt – tiếng nói của những người mẹ
Giữ gìn được dân tộc sau hàng ngàn năm Hán thuộc, công đầu thuộc về những người mẹ. Giữ được tiếng nói là quan trọng nhất, mang tính quyết định trong việc kháng cự sự Hán hóa liên tục, áp đặt và lâu dài. Giữ được tiếng nói và vẫn làm cho nó liên tục phát triển trong bối cảnh lệ thuộc đó và trong hoàn cảnh là nó chưa có chữ viết thì quả là một điều gần như không tưởng. “Tiếng Việt còn người Việt còn” có lẽ là tinh thần đã được hun đúc hơn 2 ngàn năm rồi. Trong những năm trường lệ thuộc, tiếng nói mà những đứa trẻ ra đời được nghe đầu tiên là lời ru của mẹ, ngay cả những đứa con của chồng Hán mẹ Việt. Rồi nhờ sự mềm mại khéo léo đặc trưng của phụ nữ Việt từ ngàn xưa mà những công dân lai chào đời trên mảnh đất Việt luôn nói sỏi tiếng Việt tới mức không thể cùng cha mình truyền bá tiếng Hán trong cuộc sống hàng ngày, tới mức không để chồng áp đặt được tiếng Hán là ngôn ngữ sinh hoạt trong gia đình. Nếu phụ nữ Việt không kháng cự thành công ở “thành lũy” đầu tiên này thì chẳng cần đến một nghìn năm, trăm năm thôi tiếng Việt đã không còn.

Sau khi thoát được thời kỳ Hán thuộc trực tiếp, các vua quan nam giới chẳng bao giờ có ý thức phát triển tiếng Việt. Họ tiếp tục dùng chữ Hán, tiếng Hán trong nền hành chính và khoa cử vì cho rằng nó hàn lâm, bác học. Có một nỗ lực đáng kể của giới học thuật là làm ra chữ Nôm để diễn đạt tiếng Việt, nhưng chỉ dùng được chữ Nôm khi đã thành thục chữ Hán, vẫn cứ lệ thuộc. Hơn nữa chính quyền qua bao triều đại chưa từng quan tâm đến chữ Nôm. Nhưng con không cho rằng những trở ngại trên là nguyên nhân chính khiến tiếng Việt không có được chữ Việt sau hơn nữa thiên niên kỷ thoát khỏi Hán thuộc trực tiếp. Lý do chính nằm ở chỗ: kiểu chữ Hán, chữ Nôm mang thuộc tính CỨNG – Tính nam của người TQ trong khi tiếng Việt mang đặc tính MỀM – Tính nữ, là tiếng nói của những NGƯỜI MẸ. Do đó mọi sự áp đặt đặc tính cứng của chữ viết lên đặc tính mềm của tiếng nói đều không thành công. (Giải thích và lập luận cặn kẽ cho nhận định này tốn hàng chục trang giấy nên con hẹn ba và mọi người sẽ viết vào dịp khác). Thế nhưng tiếng Việt lại kết duyên dễ dàng với chữ La Tinh để tạo nên một ngôn ngữ tuyệt vời mà chúng ta có được ngày nay, cũng là một sự kết hợp tuyệt vời trong lịch sự phát triển ngôn ngữ của nhân loại. Chúng ta cần biết rằng Nhà nước TQ đã có một nỗ lực khổng lồ nhầm La Tinh hóa tiếng Hán từ đầu những năm 1950 nhưng đã thất bại sau mấy chục năm. Họ đã tuyên bố kết thúc dự án này và để cho thế hệ sau quyết định. Cùng thời với chữ Việt được sáng tạo ra vào đầu thế kỷ XVII, các nhà truyền giáo ở TQ cũng đã cố gắng làm tương tự cho chữ Hán nhưng đã không thành công.
Trong một bài viết trên tạp chí Tia Sáng ngày 5-6-2020 nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Hoành đã chứng minh rằng không thể chuyển tiếng Hán thành chữ biểu âm vì nó quá nghèo âm tiết mà lại là tiếng nói đơn âm. Tiếng Việt dù cũng là tiếng nói đơn âm nhưng lại rất giàu âm tiết (nhiều hơn khoảng 40 lần so với tiếng Hán) nên đã chuyển tốt sang chữ biểu âm bằng các ký tự La Tinh, chính là chữ Quốc ngữ ta đang dùng hiện giờ. Có một điều lý thú là Tổ tiên ta dùng chữ Hán nhưng không nói tiếng Hán, mà phiên âm nó ra tiếng Việt để đọc. Đây là thành quả của các nhà Nho trí thức xưa vốn hầu hết là nam giới, nhưng rõ ràng là họ phải dựa vào tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt – tiếng được giữ gìn và phôi thai chủ yếu bởi những người MẸ VIỆT – mới làm được như vậy. Sự “Việt hóa tiếng Hán” này cũng thể hiện sự phong phú của tiếng Việt so với tiếng Hán. Tiếng Hán đơn âm mà nghèo âm tiết nên hệ quả là có rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa, vì vậy mà muốn phân biệt được các từ này chữ Hán phải có rất nhiều chữ được viết khác nhau nhưng đọc giống nhau. Dựa vào sự giàu âm tiết của tiếng Việt, các nhà Nho Việt xưa đã phiên âm các chữ đồng âm trong tiếng Hán thành các tiếng khác âm trong tiếng Việt. Ví dụ như “Việt” (Nam) và “Nguyệt” (mặt trăng) trong tiếng Hán đều đọc là yue (duê) nhưng viết khác nhau. Như vậy khi nói thì tiếng Việt đã có thể phân biệt được nghĩa rồi chứ không phải là cần nhìn chữ mới biết đúng nghĩa như trong tiếng Hán. Có những âm trong tiếng Hán được phiên ra 5, 7 âm khác nhau trong tiếng Việt để phân biệt 5, 7 nghĩa khác nhau của âm đó ở chữ Hán. Vì vậy nên ngay cả khi chưa có chữ Quốc ngữ, tiếng Việt đã phong phú hơn tiếng Hán rất nhiều rồi. Rồi chữ Quốc ngữ đã chấp cánh cho sự giàu có này của tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Bất kỳ âm tiết nào nói ra được bằng tiếng Việt đều có thể được ghi ra chính xác, rõ ràng bằng chữ Quốc ngữ. Rồi thế giới sẽ thấy ngôn ngữ Việt – tiếng Việt và chữ Quốc ngữ sẽ bay cao như thế nào trong Thời đại QCN đang hình thành này.
Không phải bởi may mắn mà tiếng Việt kiểu phương Đông lại hòa quyện được tuyệt vời với chữ viết kiểu phương Tây đâu. Thư sau con sẽ phân tích cái gốc của sự kết hợp này để từ đó cho thấy lợi thế của dân tộc Việt nhờ làm một ĐIỂM CÂN BẰNG trên Dòng chảy. Sự phong phú của tiếng Việt thể hiện tính mềm mại uyển chuyển của dân tộc Việt mà khi thoát khỏi sự áp đặt cứng nhắc thì sẽ tạo nên được sức mạnh như nước cuồn cuộn xuôi dòng vậy.
Cả nhà mình vui khỏe nha!






Gửi phản hồi