Những suy ngẫm viết từ trong tù năm 2020
Trần Huỳnh Duy Thức

Nhân dịp từ ngày 6 đến 8/10/2026, tại Guarda, Bồ Đào Nha – quê hương của giáo sĩ Francisco de Pina – diễn ra chương trình tưởng niệm và hội thảo về ông cùng hành trình hình thành chữ Quốc ngữ, tôi đăng lại đầy đủ những phần liên quan đến tiếng Việt, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và sự giao thoa Đông – Tây trong Thư 132A và Thư 133 gửi gia đình từ trong tù năm 2020.

Những đoạn dưới đây được giữ nguyên nội dung, cách lập luận, thuật ngữ và cách nhấn mạnh của bản gốc; chỉ lược bỏ các phần khác của hai bức thư không liên quan trực tiếp đến chủ đề và trình bày lại để dễ đọc trên website.

I. TRÍCH THƯ 132A – THỜI ĐẠI QCN, THỜI ĐẠI CỦA NĂNG LƯỢNG MỀM VÀ TÍNH NỮ

Nghệ An, bắt đầu viết ngày 15/10/2020

Tiếng Việt – tiếng nói của những người mẹ

Giữ gìn được dân tộc sau hàng ngàn năm Hán thuộc, công đầu thuộc về những người mẹ. Giữ được tiếng nói là quan trọng nhất, mang tính quyết định trong việc kháng cự sự Hán hóa liên tục, áp đặt và lâu dài. Giữ được tiếng nói và vẫn làm cho nó liên tục phát triển trong bối cảnh lệ thuộc đó và trong hoàn cảnh là nó chưa có chữ viết thì quả là một điều gần như không tưởng. “Tiếng Việt còn người Việt còn” có lẽ là tinh thần đã được hun đúc hơn 2 ngàn năm rồi. Trong những năm trường lệ thuộc, tiếng nói mà những đứa trẻ ra đời được nghe đầu tiên là lời ru của mẹ, ngay cả những đứa con của chồng Hán mẹ Việt. Rồi nhờ sự mềm mại khéo léo đặc trưng của phụ nữ Việt từ ngàn xưa mà những công dân lai chào đời trên mảnh đất Việt luôn nói sỏi tiếng Việt tới mức không thể cùng cha mình truyền bá tiếng Hán trong cuộc sống hàng ngày, tới mức không để chồng áp đặt được tiếng Hán là ngôn ngữ sinh hoạt trong gia đình. Nếu phụ nữ Việt không kháng cự thành công ở “thành lũy” đầu tiên này thì chẳng cần đến một nghìn năm, trăm năm thôi tiếng Việt đã không còn.

Sau khi thoát được thời kỳ Hán thuộc trực tiếp, các vua quan nam giới chẳng bao giờ có ý thức phát triển tiếng Việt. Họ tiếp tục dùng chữ Hán, tiếng Hán trong nền hành chính và khoa cử vì cho rằng nó hàn lâm, bác học. Có một nỗ lực đáng kể của giới học thuật là làm ra chữ Nôm để diễn đạt tiếng Việt, nhưng chỉ dùng được chữ Nôm khi đã thành thục chữ Hán, vẫn cứ lệ thuộc. Hơn nữa chính quyền qua bao triều đại chưa từng quan tâm đến chữ Nôm. Nhưng con không cho rằng những trở ngại trên là nguyên nhân chính khiến tiếng Việt không có được chữ Việt sau hơn nữa thiên niên kỷ thoát khỏi Hán thuộc trực tiếp. Lý do chính nằm ở chỗ: kiểu chữ Hán, chữ Nôm mang thuộc tính CỨNG – Tính nam của người TQ trong khi tiếng Việt mang đặc tính MỀM – Tính nữ, là tiếng nói của những NGƯỜI MẸ. Do đó mọi sự áp đặt đặc tính cứng của chữ viết lên đặc tính mềm của tiếng nói đều không thành công. (Giải thích và lập luận cặn kẽ cho nhận định này tốn hàng chục trang giấy nên con hẹn ba và mọi người sẽ viết vào dịp khác). Thế nhưng tiếng Việt lại kết duyên dễ dàng với chữ La Tinh để tạo nên một ngôn ngữ tuyệt vời mà chúng ta có được ngày nay, cũng là một sự kết hợp tuyệt vời trong lịch sự phát triển ngôn ngữ của nhân loại. Chúng ta cần biết rằng Nhà nước TQ đã có một nỗ lực khổng lồ nhầm La Tinh hóa tiếng Hán từ đầu những năm 1950 nhưng đã thất bại sau mấy chục năm. Họ đã tuyên bố kết thúc dự án này và để cho thế hệ sau quyết định. Cùng thời với chữ Việt được sáng tạo ra vào đầu thế kỷ XVII, các nhà truyền giáo ở TQ cũng đã cố gắng làm tương tự cho chữ Hán nhưng đã không thành công.

Trong một bài viết trên tạp chí Tia Sáng ngày 5-6-2020 nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Hoành đã chứng minh rằng không thể chuyển tiếng Hán thành chữ biểu âm vì nó quá nghèo âm tiết mà lại là tiếng nói đơn âm. Tiếng Việt dù cũng là tiếng nói đơn âm nhưng lại rất giàu âm tiết (nhiều hơn khoảng 40 lần so với tiếng Hán) nên đã chuyển tốt sang chữ biểu âm bằng các ký tự La Tinh, chính là chữ Quốc ngữ ta đang dùng hiện giờ. Có một điều lý thú là Tổ tiên ta dùng chữ Hán nhưng không nói tiếng Hán, mà phiên âm nó ra tiếng Việt để đọc. Đây là thành quả của các nhà Nho trí thức xưa vốn hầu hết là nam giới, nhưng rõ ràng là họ phải dựa vào tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt – tiếng được giữ gìn và phôi thai chủ yếu bởi những người MẸ VIỆT – mới làm được như vậy. Sự “Việt hóa tiếng Hán” này cũng thể hiện sự phong phú của tiếng Việt so với tiếng Hán. Tiếng Hán đơn âm mà nghèo âm tiết nên hệ quả là có rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa, vì vậy mà muốn phân biệt được các từ này chữ Hán phải có rất nhiều chữ được viết khác nhau nhưng đọc giống nhau. Dựa vào sự giàu âm tiết của tiếng Việt, các nhà Nho Việt xưa đã phiên âm các chữ đồng âm trong tiếng Hán thành các tiếng khác âm trong tiếng Việt. Ví dụ như “Việt” (Nam) và “Nguyệt” (mặt trăng) trong tiếng Hán đều đọc là yue (duê) nhưng viết khác nhau. Như vậy khi nói thì tiếng Việt đã có thể phân biệt được nghĩa rồi chứ không phải là cần nhìn chữ mới biết đúng nghĩa như trong tiếng Hán. Có những âm trong tiếng Hán được phiên ra 5, 7 âm khác nhau trong tiếng Việt để phân biệt 5, 7 nghĩa khác nhau của âm đó ở chữ Hán. Vì vậy nên ngay cả khi chưa có chữ Quốc ngữ, tiếng Việt đã phong phú hơn tiếng Hán rất nhiều rồi. Rồi chữ Quốc ngữ đã chấp cánh cho sự giàu có này của tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Bất kỳ âm tiết nào nói ra được bằng tiếng Việt đều có thể được ghi ra chính xác, rõ ràng bằng chữ Quốc ngữ. Rồi thế giới sẽ thấy ngôn ngữ Việt – tiếng Việt và chữ Quốc ngữ sẽ bay cao như thế nào trong Thời đại QCN đang hình thành này.

Không phải bởi may mắn mà tiếng Việt kiểu phương Đông lại hòa quyện được tuyệt vời với chữ viết kiểu phương Tây đâu. Thư sau con sẽ phân tích cái gốc của sự kết hợp này để từ đó cho thấy lợi thế của dân tộc Việt nhờ làm một ĐIỂM CÂN BẰNG trên Dòng chảy. Sự phong phú của tiếng Việt thể hiện tính mềm mại uyển chuyển của dân tộc Việt mà khi thoát khỏi sự áp đặt cứng nhắc thì sẽ tạo nên được sức mạnh như nước cuồn cuộn xuôi dòng vậy.

II. TRÍCH THƯ 133 – BIDEN VÀ TRUNG QUỐC; VIỆT NAM ĐIỂM GIAO HÒA VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY

Nghệ An, bắt đầu viết ngày 9/11/2020

Chữ Quốc ngữ, sản phẩm của sự giao hòa Đông – Tây

Giờ con viết tiếp đoạn cuối ở trang 13 của thư 132A về đặc tính của người Việt qua tiếng Việt, chữ Việt phù hợp làm Điểm cân bằng, cho Dòng chảy thời đại QCN đang hình thành.

Tạp chí Tia Sáng ngày 5/6/20 đăng bài “Một vài tìm tòi về ngôn ngữ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Hoành, có đoạn: “Chữ Quốc ngữ làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ độc lập với chữ Hán. Thời xưa VN, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên đều dùng chữ Hán; khi thấy mặt hạn chế của nó, cả ba đều cố “thoát Hán” về ngôn ngữ. Bán đảo Triều tiên thế kỷ XV làm chữ biểu âm Hangul, nhưng Hàn Quốc hiện vẫn dùng chữ Hán để chú giải các từ ngữ cần chính xác (như về pháp lý). Người Nhật thế kỷ IX làm chữ biểu âm Kana, nhưng hiện vẫn dùng gồm 2000 chữ Hán. Riêng VN nhờ dùng chữ Quốc Ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình “thoát Hán – Thoát Khổng” này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa – tư tưởng cực kỳ quan trọng.”

Con rất đồng ý với nhận định trên và nhận định thêm rằng sở dĩ tiếng Việt có thể hòa quyện dễ dàng và mượt mà vào hình thức của kiểu chữ biểu âm La Tinh là do tính chất tương hợp tự nhiên của tiếng Việt với hình thức này. Tính chất đó đã hình thành từ nguồn gốc sâu xa của dòng giống Lạc Hồng ra đời từ sự dung chứa (dung hợp và bao dung) sự khác biệt của trăm trứng trong một cái bọc của MẸ. Đây không chỉ đơn giản là một huyền thoại. Nó gửi gấm tính cách và sứ mạng của dân tộc chúng ta – những đứa con Hồng cháu Lạc. Tính cách phổ biến của một dân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử, tạo nên văn hóa ứng xử không dễ thay đổi. Những thư con viết hồi 2014 ở Xuyên Mộc (thư 24-30) đã nói rằng việc kiến tạo chiến lược là cần phải tìm kiếm trong tính cách dân tộc những đặc tính phổ biến mà tương hợp với Dòng chảy thời đại để đặt dân tộc vào lợi thế trên Dòng chảy đó mà vượt lên nhanh chóng. Lúc này chính là thời cơ ngàn năm có một để nắm bắt và lướt nhanh đến thịnh vượng, thành một cường quốc hòa bình dựa trên QCN.

Cũng trong bài viết trên của Nguyễn Hải Hoành, tác giả đã kể rằng các nhà truyền giáo Dòng Tên như Francisco de Pina, Antonio Barbose, Gaspar de Amaral, António de Fontes, Alexandre de Rhodes v.v…. đã trong một thời gian ngắn mà làm việc phân tán lại tạo ra được chữ Quốc ngữ. Từ 1617 đến 1649, chỉ hơn 30 năm mà sáng tạo được chữ viết gần như hoàn chỉnh của một dân tộc là một sự thần kỳ gần như không tưởng, nhất là đối với thứ tiếng nhiều âm điệu với nhiều thanh điệu phong phú của tiếng Việt. Dù có xuất chúng đến đâu mà tiếng Việt thiếu sự tương hợp tự nhiên với chữ La Tinh của phương Tây thì các giáo sĩ ấy cũng không thể làm ra được chữ Quốc ngữ, chứ đừng nói là làm ra trong một thời gian ngắn kỷ lục như vậy. Sự làm việc phân tán của họ khi sáng tạo chữ Quốc ngữ cũng là một minh chứng cho sự tồn tại tự nhiên của sự tương hợp giữa tiếng Việt và chữ La Tinh. Không có phối hợp nhiều nhưng họ có những điểm chung khi sáng tạo là sự sẵn có từ lâu của tính tương hợp giữa tiếng và chữ.

Việt Nam có thể làm gì tốt hơn người Nhật và Hàn?

17/11

Tiếng nói và chữ viết là những hình thức được thể hiện từ bản chất bên trong, tức là tính cách của một dân tộc. Sự hòa quyện và tạo nên kết quả tuyệt đẹp là chữ Quốc ngữ cho thấy một đặc tính lợi thế của dân tộc Việt trong việc giao thoa với các giá trị phương Tây để tạo nên những giá trị mới hòa quyện Đông – Tây rất tốt đẹp. Các giá trị này rất mới và rất khác với “sự gặp gỡ” Đông – Tây ở Nhật thế kỷ XIX và Hàn Quốc thế kỷ XX. Từ Cuộc Duy tân Minh Trị 1868, nước Nhật đón nhận ào ạt các giá trị phương Tây để canh tân chính trị, kinh tế nhưng lại xây những rào chắn bảo thủ rất chắc và dày đặc về văn hóa. Các giá trị Đông – Tây cùng sống chung chứ rất ít giao thoa ở Nhật cho đến tận ngày nay. Đặc tính bảo thủ văn hóa là một tính cách nổi bật phổ biến của dân tộc Nhật. Tới Hàn Quốc sau Thế chiến II, họ cũng canh tân thành công đất nước theo kiểu “gặp gỡ Đông – Tây”, cũng rất bảo thủ về văn hóa nhưng có phần cởi mở hơn Nhật, nhờ vậy mà ta thấy văn hóa Hàn trên toàn cầu có phần sôi động hơn của Nhật. Hàn Quốc có nhiều sự kết hợp về văn hóa với phương Tây hơn Nhật nhưng cũng chưa thể gọi là giao thoa hòa quyện.

Cả dân Nhật và dân Hàn đều có đặc tính CỨNG rất trội mà ta có thể thấy qua sự vượt trội của tính Nam phu quyền vẫn còn rất nặng cho đến tận ngày nay. Nó còn thể hiện qua tiếng nói của họ, tiếng Nhật và tiếng Hàn rất nghèo âm tiết, còn nghèo hơn cả tiếng Hán. Tiếng Hàn (tức tiếng Triều Tiên) mà nói qua giọng cứng rắn của dân Bắc Hàn thì ta nghe như là bắn nhau vậy (cứ bật KCNA lên nghe những phát thanh viên xinh đẹp của CHDCND Triều Tiên nói thì biết ngay, dù không hiểu gì). Sự cứng nhắc đó là đặc tính từ bên trong, là tính cách của dân tộc Triều Tiên đã hình thành qua hàng ngàn năm rồi, họ có thay đổi trong thời hiện đại, nhất là ở Hàn Quốc sau Thế chiến II nhưng không nhiều. Xem cái cách mà người Hàn câu nệ trong việc giải quyết tranh chấp với người Nhật trong vấn đề lao động tình dục từ Thế chiến II thì thấy họ cứng nhắc đến thế nào. 75 năm rồi mà nó vẫn còn là vấn đề gây ảnh hưởng xấu đến quan hệ về kinh tế, ngoại giao 2 nước, tạo ra nhiều bất lợi.

Từ đó chúng ta nhìn lại VN mình thì sẽ thấy dân Việt uyển chuyển mềm mại và dung hợp hơn rất nhiều. Hận thù rồi đánh nhau loạn xị với người Pháp xong thì chỉ mươi năm sau bắt đầu quan hệ trở lại rồi nhanh chóng hữu hảo. Đã mấy chục năm rồi chúng ta chẳng thấy vấn đề gì giữa 2 nước trên góc độ nhà nước lẫn nhân dân. Với người Mỹ còn đặc biệt nữa, cứ như sự kỳ diệu vậy. Sau Chiến tranh VN kết thúc, vấn đề từ góc độ nhân dân chỉ tồn tại rất ngắn vài năm rồi mau chóng và tự nhiên bị xóa nhòa. Nhìn người miền Bắc hồ hởi đón chào tự nguyện các Tổng thống Mỹ thăm VN thì thấy. Góc độ nhà nước thì nhiều khúc mắc hơn nhưng cũng nhanh chóng được bình thường hóa (so với rất nhiều các quan hệ giữa Mỹ và các dân tộc cứng nhắc như Bắc Triều Tiên, Iran… đến giờ vẫn đầy xung đột sau gần 70 năm và hơn 40 năm nổ ra vấn đề). Đến giờ quan hệ cấp nhà nước Việt – Mỹ được khẳng định là đối tác tin cậy, thường xuyên gọi nhau là bạn bè. Ở góc độ nhân dân thì khỏi nói luôn, cứ như đôi trai gái quá yêu nhau vì hợp nhau tự bên trong nên muốn lấy nhau lắm rồi vậy.

Kết quả đó không thể giải thích bằng nguyên nhân chính yếu nào khác hơn là từ sự tương hợp hòa quyện tự nhiên bởi tính cách dân tộc được. Về phía dân tộc Việt, đó là tính cách mềm mại uyển chuyển, sẵn sàng dung hợp những khác biệt để giao thoa giá trị của mình vào đó nên mau quên hận thù, và say mê tự do nên tiếng nói rất phong phú; nhiều âm tiết; nhiều thanh điệu nên nhiều cao độ; không bị câu thúc trong sự đơn điệu của nghèo âm tiết và cao độ.

Con có một kinh nghiệm rất thú vị trong việc sáng tác thơ nhạc. Tiếng Việt của mình cho phép con gieo giai điệu nhạc vào câu thơ. Căn bản của thơ là nhịp điệu rồi, thơ bằng tiếng nào cũng vậy. Tiếng Việt có sự phong phú đặc biệt về thanh điệu và cao độ cùng với âm tiết quá đa dạng, nên con có thể đưa cao độ và âm sắc vào các câu nhịp điệu của thơ. Đọc những câu thơ có nhịp điệu đó bằng tiếng Việt đã được ẩn cao độ và âm sắc vào thì đã cảm thấy như một giai điệu nhạc rồi. Muốn phổ nhạc cho những câu thơ đó thì rất dễ dàng vì chúng đã chứa sẵn giai điệu tự nhiên sẵn có của âm nhạc rồi. Vì vậy con yêu thích thể thơ tự do. Nhưng ngay cả làm thơ theo những thể thức ràng buộc số âm tiết và gieo vần như lục bát hay đồng dao (4 hoặc 5 âm tiết) thì làm bằng tiếng Việt vẫn hay hơn những tiếng nghèo âm tiết.

Làm thơ vần bằng tiếng nghèo âm tiết thì dễ hơn (vì nhiều chữ dễ trùng vào một âm) nhưng nghe đơn điệu (ngay thơ tiếng Việt mà gieo vần bằng đúng cái chữ/âm được lặp lại thì nghe đã không hay rồi. Ví dụ như: Uyên ương ngây ngất cảnh thần/ Phút giây lắng đọng hồng trần uyên tư, nghe hay hơn là: Uyên ương ngây ngất cảnh trần/ Phút giây lắng đọng hồng trần uyên tư). Điều này cho thấy tiếng nói giàu âm tiết sẽ có nhiều lựa chọn và làm ra kết quả hay hơn là tiếng nói nghèo âm tiết. Tương ứng, với tính cách dân tộc mềm mỏng uyển chuyển thì sẽ có nhiều cơ hội làm tốt đẹp hơn là tính cách dân tộc cứng nhắc. Trong những môi trường tự do thì lợi thế này càng vượt trội.

Tiếng Việt và cuộc ly Hán ngoạn mục

18/11

Tiếng Việt có lẽ là ngôn ngữ phương Đông phong phú nhất về tiết điệu. Rồi tiếng mẹ đẻ của chúng ta đã được chắp cánh bằng một phương tiện của phương Tây – chữ viết La Tinh vốn đã tương hợp tự nhiên từ bao đời nên đã bay cao đẹp đẽ như vậy.

Các nhà Nho yêu nước từ xưa của VN phải là những người rất giỏi giang nên mới sáng tạo được ra chữ Nôm – là kiểu chữ biểu âm. Chữ biểu âm là loại chữ viết tiện dụng hơn chữ biểu ý (hoặc chữ tượng hình như chữ Hán) và là sáng tạo được phát triển mạnh bởi phương Tây dưới dạng các ký tự cơ bản (chữ cái). Nhưng sau khi thoát khỏi ách thống trị bằng cai trị trực tiếp của TQ vào thế kỷ X, VN ta không có sự giao lưu văn hóa với phương Tây nên các nhà Nho ta chưa tiếp thu được ký tự La Tinh. Họ đã dùng chính hình thức của chữ Hán (biểu ý) để ghi được tiếng Việt theo âm – đó chính là loại chữ biểu âm mà được gọi bằng chữ Nôm ra đời từ thế kỷ XII. Đây là một sáng tạo rất đáng kể trong bối cảnh văn hóa Hán vẫn chi phối các sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa Việt thông qua ảnh hưởng từ sự đô hộ hơn ngàn năm trước. Tuy vẫn còn lệ thuộc vào chữ Hán mới dùng được chữ Nôm nhưng đây là chữ biểu âm được sáng tạo cho tiếng Việt và người Việt nên chữ Nôm đã mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ văn hóa Việt. Chúng ta dễ dàng thấy nền Văn học Việt dựa trên chữ Nôm tỏa sáng và vượt trội hơn dựa trên chữ Hán, nổi bật nhất là TRUYỆN KIỀU.

Sự tỏa sáng này là một minh chứng cho giá trị tốt đẹp được tạo ra từ sự giao thoa Đông – Tây: tiếng nói phương Đông của người Việt được thể hiện dưới cách thức chữ biểu âm theo xu hướng của phương Tây. Cái hồn Việt đã tìm được loáng thoáng một tâm hồn tương hợp gần nửa thiên niên kỷ trước khi kết duyên thành chữ Quốc ngữ. Chữ Nôm bị nhiều hạn chế vì dựa trên hình thức cứng nhắc của chữ Hán, nhưng nếu không có chữ Nôm thì các giáo sĩ phương Tây không thể tạo ra chữ Quốc ngữ. Chính xác là họ đã dựa trên cách ghi âm ở chữ Nôm rồi thay đổi bằng phương tiện ký tự La Tinh thay vì chữ Hán (biểu ý) để tạo nên chữ Quốc ngữ. Các giáo sĩ phương Tây đã tiếp nối, kế thừa thành tựu của các Nho sĩ phương Đông ở nước Việt để tạo nên một thành tựu tuyệt đẹp – một sự giao thoa chẳng khác mấy một cuộc hôn nhân mà nàng đã khát khao tìm kiếm nửa ngàn năm, còn chàng thì gặp tiếng sét ái tình vì tìm thấy người hòa quyện và nâng được giá trị của mình lên. Họ yêu, kết hôn và sinh con chỉ trong một thời gian cực ngắn. Đứa con là chữ Quốc ngữ tuyệt đẹp. Chàng đưa nàng thoát khỏi cuộc hôn nhân gượng ép cả ngàn năm. Nàng đưa chàng đến một khám phá mới làm thăng hoa văn hóa nhân loại. Hành trình khám phá ấy đang bước vào một chặng mới theo Dòng chảy của Thời đại.

Kết quả của chặng đường mới này là một sự giao thoa hòa quyện Đông – Tây chưa từng có trên thế giới, tạo nên những giá trị tốt đẹp không chỉ cho VN mà cho thế giới luôn, không chỉ về văn hóa mà cả kinh tế, chính trị. Sự giao thoa đó chính là ĐIỂM CÂN BẰNG. Nhờ giao thoa như vậy mà hình thành nên ĐIỂM CÂN BẰNG. ĐIỂM CÂN BẰNG hình thành thì thúc đẩy giá trị giao thoa ra mạnh mẽ, giúp làm cân bằng nhiều khác biệt gây xung đột trong khu vực và thế giới. Vào Thời đại mới, Thời đại QCN với đặc trưng là đặc tính MỀM vượt lên cân bằng với đặc tính CỨNG thì đặc tính mềm mại uyển chuyển của dân tộc Việt sẽ là một lợi thế lớn. VN sẽ hưởng lợi rất lớn nhờ đặc tính đó nếu biết chuyển mình thành một ĐIỂM CÂN BẰNG như con đã viết nhiều lần.

Hiểu biết thì VN sẽ còn thành công hơn cuộc chuyển mình Duy Tân Minh Trị của Nhật 150 năm trước. Nền văn hóa VN sẽ thăng hoa chủ yếu nhờ giao thoa chứ không phải nhờ bảo thủ. Thẳng thắng mà nói chúng ta không có nhiều để mà bảo thủ. Hơn nữa, Thời đại thế giới đã khác trước quá nhiều. Trong các Thời đại trước, đặc tính CỨNG nổi trội nên đã dẫn đến rất nhiều khu biệt trên thế giới được tạo ra bởi quan điểm bảo thủ cứng nhắc. Chính điều này đã dẫn đến rất nhiều xung đột và nguy cơ chiến tranh cho nhân loại. Dòng chảy thời đại QCN đang tiến tới một thế giới loại bỏ chiến tranh xung đột đẫm máu, hòa bình và hòa hợp hơn. Đây là một hành trình dài nhưng muốn đạt được thì phải bắt đầu ngay. Sự bắt đầu đó chính là từ ĐIỂM CÂN BẰNG: bắt đầu bằng sự giao thoa để “mềm hoá” các khu biệt. Nhờ tương hợp với đặc tính MỀM đang trội lên của của Dòng chảy thời đại nên ĐIỂM CÂN BẰNG sẽ đẩy nhanh và mạnh sự “mềm hóa” này ra thế giới. Nhân loại sẽ thấy sự thay đổi kỳ diệu. Dân Việt sẽ thấy mình chuyển mình thần kỳ. Các giá trị truyền thống của mình thăng hoa vào Thời đại mới chưa từng có.

Chữ Quốc ngữ là một cuộc ly Hán tuyệt đẹp, là một sự chuẩn bị cho một cuộc giao thoa quy mô và toàn diện – một cuộc ly Hán để đưa dân tộc đến đỉnh cao vinh quang. Như con viết ở 127A, ly Hán không phải là một sự bài xích mà là sự thoát khỏi những thói xấu bị ảnh hưởng hàng ngàn năm, nhất là với những gì không còn phù hợp với Thời đại QCN. Những truyền thống tốt đẹp và phù hợp vẫn sẽ tiếp tục ở lại để giao thoa và tạo nên giá trị mới. Cũng giống như các từ Hán Việt (còn gọi là chữ Nho) vẫn tồn tại trong chữ Quốc ngữ và là một kho tàng văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Tổ tiên đã thông minh mà Việt hóa tiếng Hán trong bối cảnh bị áp lực đồng hóa với nỗ lực xóa sạch tiếng Việt. Từ Hán Việt là một sự giao thoa thông minh trong hoàn cảnh đó. Nó có nhiều nét hay đẹp, không việc gì phải bài xích nó cả. Đó cũng là sự cởi mở của dân tộc Việt.

Nguồn bản gốc:

Thư 132A: https://tranfami.wordpress.com/2020/11/28/thu-132a-thoi-dai-qcn-thoi-dai-cua-nang-luong-mem-va-tinh-nu/

Thư 133: https://tranfami.wordpress.com/2021/04/08/thu-133-biden-va-trung-quoc-viet-nam-diem-giao-hoa-van-hoa-dong-tay/

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Trần Huỳnh Duy Thức

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc